Khi chúng tôi đi khắp nơi tìm thú phiêu lưu, chúng tôi không phải kẻ thù của quý vị. Chúng tôi muốn hiến cho quý vị những địa hạt mênh mông và lạ lùng. (APOLLINAIRE)

Cô Mặc Sầu - Một chuyến đi xa

Trịnh Sơn

Cô Mặc Sầu sử dụng lối trần thuật mộc, cốt truyện mở dần ra, càng lúc càng rộng, càng sâu theo hành trình của những bản báo án và của chàng sinh viên tên Khoa đi làm khóa luận. Diễn biến vụ án leo thang, dẫn dắt nhân vật và độc giả khám phá vùng đất Cô Mặc Sầu. Ở đó, cảnh vật và con người, hiện thực và truyền thống, vẻ đẹp hoang sơ và hiện thực trần trụi như “nhảy bổ” vào nhau. Nhảy bổ chứ không phải hòa quyện. Lạ lùng thay, mỗi cú nhảy tạo ra một sự trùng khít như hai bên sinh ra để dành cho nhau không hề khiên cưỡng. Nguyễn Đình Tú chối từ cách diễn đạt phức tạp hóa vốn rất điêu luyện qua nhiều tác phẩm trước. Ở Cô Mặc Sầu, Nguyễn Đình Tú chọn cho mình vị trí một nhà văn chứ không phải Sherlock Holmes.

Đọc tiếp

Đứa con rơi của Hoài Thanh

Trịnh Sơn

Phải nói rằng: Nàng rất đẹp. Đẹp rực rỡ. Nhất là đôi mắt to tròn hun hút muốn thâu tóm cả thế giới về phía mình. Và làn da, trắng như tuyết. Cứ ngỡ nàng vừa chui ra từ cái vú một con bò sữa sau một thời gian ấp ủ đủ mệt. 

(tranh sưu tầm)

Nhưng, điều làm tôi chú ý tới nàng, đầu tiên, lại không phải là đôi mắt xoáy ốc với nước da quý phái nàng có. Mà là một thứ khác.

Đó là một buổi tối thứ bảy. Phòng karaoke ồn ào thanh âm của rượu và đám đông. Một con bé nhợt nhạt ngấm men đến bên tôi:

- Anh ơi! Hát đi. Ôm em đi. Chơi đi. Đêm nay, còn dài lắm.

Con bé xỉn mất rồi. Tôi chưa biết phải làm sao với nó, thì nàng tới, bằng giọng nói.

- Đi vào phòng trong ngủ đi. Đêm không dài lắm đâu. Ngày mai mới dài.

Đọc tiếp

Có những ngày mưa kéo dài

Trịnh Sơn


(ảnh sưu tầm)
Có những ngày mưa kéo dài
Ngủ vùi trong chăn ấm quên đem lũ chim vào nhà
Nửa chừng cơn mê
Nửa chừng ngô rang phưng phức Vũ Bằng
Nửa chừng hoang dại em không khăn không áo
Nửa chừng khúc Phạm Duy ngựa hồng
Nửa chừng bộ phim hài Mỹ
Tôi nghe tiếng chim kêu
Rõ ràng tiếng chim kêu
Trong chật chội màng nhĩ đã bắt đầu xơ cứng vì lạnh của mình

Có những ngày mưa kéo dài thật dài
Chuẩn bị lương tháng vinh hạnh bớt 10% cho quỹ từ thiện
Thể nào bạn bè cũng rủ nhau tìm một chỗ vừa đủ
Nhâm nhi cuộc đời nhâm nhi bản thân mình
Mếu máo và tếu táo
Khật khừ rồi lạo xạo
Chúng ta chỉ là mấy hạt cát nhỏ giữa vũng phố này

Đọc tiếp

Ăn mày

Lỗ Tấn

(ảnh sưu tầm)
Tôi đi dọc theo bức tường cao lở lói, đạp lên tro bụi. Ngoài kia có mấy người, ai đi đường nấy. Gió nhẹ nổi lên, sương bám ở những chiếc lá héo chưa rụng trên cành của gốc cây cao bên tường rơi lác đác xuống đầu tôi.

Gió nhẹ nổi lên, bốn phía đều là cát bụi.

Một đứa trẻ bước tới xin tiền tôi, cũng mặc áo rộng, cũng không thấy vẻ gì bi thương, nhưng chặn tôi lại dập đầu rồi đuổi theo nài nỉ.

Đọc tiếp

Bản tình ca của J. Alfred Prufrock

T.S. Eliot


S’io credesse che mia risposta fosse 
A persona che mai tornasse al mondo, 
Questa fiamma staria senza piu scosse. 

Ma perciocche giammai di questo fondo 
Non torno vivo alcun, s’i’odo il vero,
Senza tema d’infamia ti rispondo.  



Nào, ta hãy lên đường, anh và em
Trong buổi chiều lặng lẽ, dịu êm
Như người bệnh đang nằm trên bàn mổ
Ta hãy đi theo từng con phố nhỏ
Nơi vỏ sò chất đống ngổn ngang
ở nơi đó những quán rượu rẻ tiền
Những phòng trọ cho những đêm không ngủ
Đường phố dẫn vào cuộc tranh chấp, cãi cọ
Dẫn ta đến tận nơi
Và cho em, một câu hỏi chết người

Đọc tiếp

Lời thú

Hồ Ngạc Ngữ

Viết sau khi đọc Đứa Bé của Trịnh Sơn


Viết những câu thơ lễ phép
Của một thời áo cơm
Viết những niềm tin dễ dãi
Cháy bùng ngọn lửa rơm

Tôi viết tôi vào đâu
Phấn sáp bôi đầy mặt
Dẫu đội nón mang râu
Đóng tuồng lưu diễn khắp

Tôi là kẻ tội đồ
Của chính tôi một thuở
Giấu đi bao nỗi khổ
Phỉnh phờ những niềm vui
Bán đứng những nụ cười
Trong câu thơ đồng nát

Hãy vứt vào sọt rác
Những bài thơ một thời

19.9.2009
H.N.N.

Đọc tiếp

James Joyce, tài năng không thể chế ngự

James Longenbach

Chế độ kiểm duyệt cho rằng Ulysses xấu xa và nổi loạn, nhưng chính sự bi thảm hóa cuộc xung đột thiện ác bất tận đã làm cho tác phẩm đi trước thời đại. Xin giới thiệu sơ lược bài bình luận của James Longenbach.
Năm 1946, sinh viên ưu tú Hugh Kenner thuộc đại học Toronto muốn đọc bản sao Ulysses của James Joyce, thư viện trả lời rằng, thủ tục đầu tiên là phải có hai thư giới thiệu, của tu sĩ và của bác sĩ. Lệnh cấm Ulysses ở Canada tồn tại đến năm 1949, chàng trai hướng về phía nam, đại học Yale, sau một số tranh cãi mới được phép làm luận án tiến sĩ về Joyce, và năm 1956 xuất bản Joyce xứ Dublin, một trong những tài liệu quy mô lớn đầu tiên về sự nghiệp của Joyce. Hai mươi ba năm sau Mỹ bỏ lệnh cấm Ulysses, cuốn sách của Joyce được nhắc nhiều hơn là được đọc, rằng nó bẩn thỉu, vô đạo đức, không thể chấp nhận. Ngày nay, Ulysses vẫn được nhắc nhiều hơn được đọc. Cuốn sách nào được đánh giá cao nhất chưa bao giờ bạn đọc hết? Ulysses của Joyce. “Để dành cho thế hệ mai sau”.

Đọc tiếp

Hoa chiến tranh

“Anh túc nở đầy đồng bãi Flanders” (Flanders là vùng đất thuộc tây bắc châu Âu, dọc Bắc Hải) là dòng mở đầu một trong những bài thơ nổi tiếng nhất về chiến tranh thế giới I. Hoa anh túc đỏ (Poppy đỏ, Papaver rhoeas) rộ khắp chiến trường Bỉ và Pháp đã trở thành biểu tượng mạnh mẽ và bền bĩ về tử sĩ và sự hy sinh của họ. 


Tuần này, nước Anh bắt đầu lễ tôn vinh người đã khuất trong chiến tranh và ghi dấu một thế kỷ Đệ nhất thế chiến bùng nổ. Anh túc là một phần kỷ niệm. Các con hào ở pháo đài tháp London (Tower of London) được trang trí như một biển anh túc đỏ rực bằng gốm. Mỗi đóa hoa tượng trưng một người ngã xuống vì cuộc chiến. Thứ ba ngày 11/11, kỷ niệm ngày ký hiệp định chấm dứt chiến tranh thế giới I (còn gọi là ngày Tưởng nhớ, ngày Cựu chiến binh hay ngày Đình chiến), 888.246 đóa hoa được hoàn thành mang tên “Máu nhuộm đất thành biển đỏ”. Mục đích lắp đặt là để phản ánh tầm quan trọng và dữ dội của Thế chiến I. 

Đọc tiếp

Có một thế hệ Không biết đâu mà lần

Trịnh Sơn

Không biết đâu mà lần mang đậm dấu ấn của một tự truyện hơn là một câu chuyện hư cấu. Tự truyện của một thầy giáo mới ra trường, từ đồng ruộng chiêm trũng xứ Bắc, học trường đại học hiu hắt miền Trung, “nhảy dù” vào phương Nam đầy ảo tưởng. 

Tự truyện không của riêng một thầy giáo trẻ. Không biết đâu mà lần nâng nhân vật của mình lên thành đại diện, thành thế hệ và tâm thế thời đại. Người đi trước ôn lại mình. Kẻ đến sau tìm thấy mình. Có những chi tiết, hoàn cảnh, nhân vật khiến người đọc cảm tưởng mình là cánh diều no gió, cố bứt khỏi bàn tay tác giả đang cầm giữ dòng suy tưởng miên man. Thi thoảng, người đọc lại thấy chính mình đang hớt hải trong lo âu và háo hức cầm cuộn dây mà chạy, mà tung hê, mà lèo lái cho câu chuyện bay lên. Ít nhiều, Không biết đâu mà lần tạo ra một cuộc bập bênh đa chiều. Nhân vật Anh nảy mầm trong tác giả và chính Anh bao bọc tác giả, làm một khối cầu giữ thanh bập bênh không văng vòng lăn của mình. Từ môi trường giáo dục đầy hoa thơm cỏ dại cho đến khu tập thể ong ve rồi nhà trọ lên cơn rồi đi đâu đó chẳng định danh được. Từ kỷ niệm thơm thảo gia đình và giảng đường chảy qua bao mánh to khóe nhỏ dại dài khôn vặt, ghé gẩm chỗ này nơi kia, khi thì bến tình gia đình, thầy trò, bạn bè, đồng nghiệp trong sáng, chân thành, lúc tạt vào bờ bãi đầy ganh đua, bon chen, ích kỷ. Từ lý tưởng cao đẹp của một bậc trồng người, thăng qua nỗ lực mãnh liệt và đôi khi cứng nhắc, giáng xuống sự đưa đẩy vốn dĩ, rồi buông xuôi, kỳ thị phẩm chất tử tế của người khác và kỳ thị chính cả bản thân…

Đọc tiếp

Thông điệp của Jean Cocteau

Chân dung Jean Cocteau của danh họa Pablo Picasso

Jean Maurice Eugène Clément Cocteau sinh ngày 5.7.1889 tại Maisons-Laffitte gần Paris. Cha là luật sư và họa sỹ nghiệp dư tự tử khi Cocteau mới 9 tuổi. 15 tuổi, cậu bé Cocteau bỏ nhà ra đi, sớm nổi tiếng trong giới nghệ sỹ Bohème, có biệt danh Hoàng tử lông bông (Le Prince frivole) theo tên tác phẩm xuất bản năm 22 tuổi. Tên tuổi Cocteau gắn liền với những tác phẩm văn chương và điện ảnh tiền phong như Les Enfants Terribles, Le sang d’un poète, Les Parents Terribles, La belle et la bête, Orphée (có mặt Pablo Picasso, Francoise Sagan, Brigitte Bardot). Tiểu thuyết gia nổi tiếng người Mỹ Edith Wharton viết về Jean Cocteau: Thi sỹ có mỗi dòng thơ lớn là một bình minh, mỗi hoàng hôn tạo nên một thành phố thiên đàng
Sinh thời, Cocteau hiếm tham dự tang lễ, kể cả của người bạn mật thiết là “thiên tài nổi loạn” Raymond Radiguet yểu mệnh (1903-1923). Chết không đáng sợ, sống mới đáng sợ. “Thực ra người ta chẳng biết gì cả”.

Đọc tiếp

Bồ đề một lá

Trịnh Sơn


Minh họa: Văn Ngọc
Suốt mấy ngày ở Ấn Độ, tôi chẳng biết làm gì. Chuyến phượt như nước đổ lá khoai. Nước người ta rộng lớn quá. Con bò con trâu đi chung đường với con người. Như một ngôi chùa lớn. Mỗi túp phố là một chiếc lá bồ đề ngả nghiêng phơi mình dưới ánh nắng dìu dịu. Có chiếc non. Có chiếc già. Có chiếc đã khô ran trên bàn tay khách thập phương. Có chiếc còn vàng ố trong khay rổ của những em bé nhặt lá mưu sinh.

Nghề nhặt lá. Tôi phì cười khi nghĩ không biết ở cái thành phố thánh địa Phật giáo này có các công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên gia công, chế biến, môi giới và buôn bán lá hay không? Nhẫn hỏi:

- Gì mà cười vậy cha nội?

Đọc tiếp

Thi ca miền Nam 1954-1975

Nguyễn Vy Khanh

Sàigòn thơ mộng nay còn đâu (ảnh sưu tầm)
Tháng 7 năm 1954, cuộc chiến-tranh Đông-dương chấm dứt, nước Việt-Nam bị chia đôi. Trước thực tại mới, những nhà thơ ba miền tập hợp ở bên này vĩ tuyến 17 đã háo hức sáng tác, lên đường, làm nên một nền thi-ca độc đáo và dựng xây một nền văn-học nhân bản và khai phóng. Nếu về phương diện chính-trị, quốc gia Việt-Nam Cộng-Hòa là một thực thể mới, thì về văn-học nghệ-thuật, cái mới cũng sẽ lấn át cái cũ và cái có sẵn, với những văn nghệ sĩ mới: mới trong tinh thần trách nhiệm và xây dựng!


Đọc tiếp

Phố cũ

Trịnh Sơn


ta thèm ơi ly bia hè phố
uống tan ảo vọng 20 năm tuổi trẻ
nhắm vào lòng chút bụi ngày cũ
nhớ

Tranh của Salvador Dalí

Đọc tiếp

Thiên đường dối trá

Helen T.Verongos

Mã Kiến (Ma Jian – sinh năm 1953 ở Thanh Đảo), mới đầu làm thợ sửa đồng hồ và vẽ tranh tuyên truyền, rồi làm phóng viên cho một tạp chí quốc doanh. Khi 30 tuổi, vì không thể chịu được áp lực nhà nước và bị trù dập nên ông bỏ nghề, mai danh ẩn tích và lang thang về những vùng hoang dã phía Nam Trung Quốc. Sau những chuyến đi này ông hoàn thành quyển khảo luận Bụi Đỏ, và tập truyện ngắn Hãy Thè Lưỡi Bạn Ra (1987) mô tả nền văn hóa và tôn giáo của dân Tây Tạng dưới ách cai trị Trung cộng – ngay khi vừa phát hành đã bị chính quyền buộc tội đồi trụy, theo hư vô chủ nghĩa và tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.

Đọc tiếp

Chó hoang hôm qua nay thành chó giữ nhà

Lưu Hiểu Ba
(Phan Trinh dịch)
Khổng Tử, 551-479 TCN

Lời giới thiệu của người dịch
1. “Chó nhà tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen, và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.
Thoạt đọc, bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.
2. Tên của Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007. Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho Vladimir Putin

Đọc tiếp

Chính trị có phải là một từ bẩn thỉu?

Trịnh Sơn

Ông chú tôi mấy mươi năm chỉ chuyên chú vào chuyên môn nghề nghiệp, nhất định không chịu vào đảng. Gần về hưu, lên được chức phó, có lẽ vì sống lâu lên lão làng, hoặc như một cách đền ơn của thế hệ sau, bởi học trò ông hầu như lên trưởng, lên cao cả. Cứ nghĩ thuyền nhỏ thì sóng nhỏ, đợi mấy năm nữa yên ổn về vườn, ai dè bị gọi lên, bảo phải kết nạp đảng. Không vào đảng thì vào bếp nhặt rau cho vợ. Ông cương quyết: “Cả đời tôi phấn đấu không vào đảng, chẳng nhẽ cuối đời lại chui đầu vào”

Đọc tiếp

Tuổi trẻ

Trịnh Sơn

Hoa vỡ - Đường Linh


Em đừng xa xót khi đọc thơ anh
Những câu thơ quá gầy
Xanh xao chiếc giường tầng ký túc xá lỏng bỏng gói mỳ tôm lót dạ
Chiếc giường quên kẽo cọt
Bập bùng mạch đập lãi giun mỗi năm sổ một lần
Nhưng mỗi ngày,
Chúng ta phải ăn ít nhất hai lần

Những câu thơ quá gầy
Như cuộc đời anh vậy

Cây me già sân trường mùa hoa thơm
Tóc em vướng tơ sâu non hít hà
Giật mình
Lỡ tay giết một sắc màu vô tội

Em đừng ôm mặt khi đọc thơ anh
Nước mắt không thể nào ồn ào như thác

Đọc tiếp

Scarlet Áo xanh

Trịnh Sơn


1. NHỮNG CÂU THƠ CHÁY


Anh đã từng làm những câu thơ kiêu hãnh
Phản bác Einstein, rằng, tình yêu không tương đối

Anh đã từng làm những câu thơ bay bổng
Vén tóc xanh con gái thấy mặt trời

Anh đã từng làm những câu thơ không rơi
Thời gian vẫy vùng trong một dấu gạch nối

Ôi, những câu thơ logic và công nghệ
vén thế kỷ 21 như mở cửa một khu vườn

Đọc tiếp

Tôi tự do không?


Luise Rinser
(lược dịch: Nguyễn Hiến Lê)

“Vậy: cũng không tự do nữa, hoặc nếu tự do thì phải mang tội”

Tác giả, Luise Rinser, mà tôi đoán là một người Đức gốc Do Thái, ngay từ hồi nhỏ, đã có tinh thần độc lập, không tin hết những lời gia huấn rất nghiêm khắc, lớn lên sống một cuộc đời rất chìm nổi, một lần bị Đức Quốc xã bắt giam, suýt bị xử tử, hai đời chồng – chồng trước chết, chồng sau ly dị - chín lần phải rời những căn nhà gian lao mới xây dựng được, rốt cuộc bỏ nước Đức, cũng không qua Israel mà xin cư trú ở Ý, tóm lại đã chịu nhiều cuộc khủng hoảng về tinh thần, nên đã có nhiều dịp suy tư về cuộc sống mà tìm ra một nhân sinh quan không bi mà cũng không lạc một cách dễ dãi, nhưng can đảm, nhân từ và thông minh…
(Nguyễn Hiến Lê)


Mấy tiếng bề ngoài có vẻ tầm thường đó mà chứa nhiều thuốc nổ đấy.
Vô số tác phẩm viết về vấn đề đó; mà vẫn còn gây những cuộc tranh luận gay go, chứ chưa đưa ra được một câu giải đáp nào hoàn toàn đúng, làm cho ta thỏa mãn. Bạn chẳng hạn, bạn trả lời ra sao?

Đọc tiếp

Đã mòn thương khó

Trịnh Sơn

Những câu thơ mọc trong cơn sốt
Nuôi tật nguyền thân xác
(tranh sưu tầm)

Bại liệt con đường dẫn tới niềm tin
Gió ngừng nhảy đã lâu trên mái nhà chim quên
Thiêu đốt chán chê lửa địa ngục

Ướp đá mồ hôi cưỡng bức
Ai đang bước cùng anh dưới mé sông phơi trăng lạc điệu
Ai đang nắm tay anh sớt chia ánh nhìn trôi miền xa thẳm
Bầy sợ hãi bao vây bằng giáo mác ngọt ngay và thòng lọng ngọt ngào
Chính lúc ấy, anh cắn lưỡi

Đọc tiếp
Lên đầu trang